| In bài | |
| Thuận lợi và khó khắn của Ngành Lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi trong năm 2023 | |
| Tỉnh Quảng Ngãi hiện có khoảng 285.164 ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp, chiếm 55,3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; diện tích đất có rừng gồm cả trong và ngoài quy hoạch lâm nghiệp hiện có 333.045 ha (trong đó, rừng tự nhiên là 106.667 ha). Đây là nguồn tài nguyên, nguồn lực to lớn để đưa ngành lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật theo hướng hiện đại, đóng góp ngày càng quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng của tỉnh. | |
|
|
|
Trong năm 2023, các chỉ tiêu về lĩnh vực lâm nghiệp cơ bản thực hiện đạt theo kế hoạch đề ra. Cụ thể: Quản lý, bảo vệ 130.787,5 ha rừng; khoanh nuôi tái sinh rừng 12.711,79 ha; trồng rừng tập trung 24.338 ha; gỗ rừng trồng khai thác (gỗ tròn) 2.443.200 m3; tỷ lệ che phủ rừng (bao gồm cây trồng phân tán) 52%. Thực hiện giao, khoán bảo vệ rừng 97.575 ha; tổ chức 402 đợt tuyên truyền/21.140 lượt người tham gia bằng hình thức họp dân tại các khu dân cư thôn, bản; tuyên truyền trên Đài truyền thanh cấp xã 727 lượt; tuyên truyền trực tiếp 964 hộ, chủ rừng; ký cam kết bảo vệ rừng với 5.061 chủ rừng và người dân sống gần rừng.; truy quét bảo vệ rừng 623 đợt, kiểm tra 889 đợt, tuần tra quản lý bảo vệ rừng 3.309 đợt; phát hiện 142 vụ vi phạm; thu giữ 103,13 m3 gỗ tròn và 62,47 m3 gỗ xẻ các loại;... Đạt được kết quả nêu trên, xuất phát từ những thuận lợi trong quá trình tổ chức thực hiện, đó là: (1) Công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng được cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến địa phương triển khai một cách đồng bộ, thống nhất. Các chủ trương, chính sách pháp luật ngày càng hoàn thiện; từ những chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình Phát triển lâm nghiệp bền vững, Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh;… Đây thực sự là những chủ trương, văn bản pháp lý quan trọng để các cơ quan, đơn vị, địa phương cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch và triển khai thực hiện hoàn thành tốt các mục tiêu về lâm nghiệp đã đề ra. (2) Các lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ và phát triển rừng như: Kiểm lâm, Công an, Quân đội và chính quyền địa phương các cấp chủ động xây dựng kế hoạch đấu tranh phòng ngừa các hành vi xâm hại trái phép vào rừng tự nhiên. Tổ chức ký kết quy chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành tỉnh, các địa phương giáp ranh; đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các lực lượng phối hợp một cách đồng bộ trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (3) Hầu hết diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh đã được giao và thực sự có chủ quản lý, góp phần tích cực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Một số chính sách hỗ trợ cho người được giao rừng, người nhận khoán bảo về rừng như Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021-2025; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025; Dịch vụ môi trường rừng,... đã góp phần đem lại thu nhập ổn định cho người tham gia bảo vệ rừng. (4) Công tác phát triển rừng luôn được chú trọng, chất lượng cây giống để trồng rừng phòng hộ, trồng rừng sản xuất được được nhiều chủ rừng quan tâm đầu tư nên chất lượng rừng trồng ngày càng tăng. Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng năm 2023 đạt 2.443.200m3/ tổng diện tích khai thác 24.432ha đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể, góp phần giảm nghèo trên địa bàn tỉnh. Ngoài những thuận lợi, ngành lâm nghiệp của tỉnh trong năm qua cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, trong đó điển hình là: (1) Tình trạng dịch bệnh xuất hiện trên cây keo, với hơn 8.168 ha rừng trồng, tỉ lệ cây bị chết từ 5 - 10%, nơi cao từ 30 - 60% tại hầu khắp các địa phương trong tỉnh, khiến người trồng rừng thiệt hại nặng. (2) Kinh tế dưới tán rừng chưa phát triển, chưa tạo sinh kế cho người được giao/khoán bảo vệ rừng. Rừng trồng nguyên liệu gỗ lớn và rừng được cấp chứng chỉ rừng trên địa bàn tỉnh còn hạn chế; người dân thiếu vốn đầu tư sản xuất để trồng rừng kinh doanh gỗ lớn có chu kỳ dài, lâu cho thu hồi vốn trong khi mức độ rủi ro cao do thiên tai gây ra. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước đầu tư để triển khai các chương trình, dự án bảo vệ, phát triển rừng và phát triển sản xuất lâm nghiệp còn rất thấp so với nhu cầu. (3) Tình hình vi phạm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng vẫn còn xảy ra; một số diện tích rừng thuộc các dự án đầu tư đã kết thúc nhưng không có nguồn kinh phí hỗ trợ để tiếp tục quản lý, bảo vệ; các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ các bên có liên quan chưa rõ ràng dẫn đến rừng bị xâm hại nhưng việc xử lý gặp nhiều khó khăn, phức tạp. (4) Lực lượng Kiểm lâm tương đối mỏng so với diện tích rừng quản lý (trung bình 01 biên chế Kiểm lâm quản lý hơn 2.000 ha), một số Kiểm lâm địa bàn trình độ không đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Hiện nay, Quy hoạch tỉnh Quảng Ngãi thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đây là cơ hội để ngành lâm nghiệp tỉnh tập trung huy động nguồn lực hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Vì vậy, thời gian đến cần tiếp tục phát huy những lợi thế và thành quả đạt được, hạn chế, khắc phục những khó khăn, tồn tại để tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả nội dung về lâm nghiệp trong Quy hoạch tỉnh. |
|
|
Bản quyền ©2023 Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi |
|